Xin chào các bạn, mình là Minty từ SOL IELTS.
Hôm nay, mình vừa đọc được chia sẻ của thầy Thành 9.0 IELTS chia sẻ về cách đạt 9.0 IELTS Speaking dù trong phần thi IELTS Speaking part 2 không biết nói gì. Các bạn có thể đọc chia sẻ của thầy TẠI ĐÂY nhé.
Nhân dịp này, mình cũng muốn mổ xẻ một chút cách thầy đã dùng để vượt qua phần thi IELTS Speaking part 2 cũng như chia sẻ thêm một vài kinh nghiệm của mình. Hy vọng các bạn có thêm những lời khuyên hữu ích cho bản thân để vượt qua phần thi IELTS Speaking khó nhằn này.
Đề bài mà thầy gặp phải là “Describe a cultural performance you enjoyed” và thầy thừa nhận rằng bản thân không có trải nghiệm đáng kể nào để chia sẻ. Thay vì bịa đặt một câu chuyện hoàn hảo, thầy đã chọn cách thành thật với giám khảo, đồng thời sử dụng ngôn ngữ linh hoạt để duy trì bài nói. Bài nói của thầy có những yếu tố sau:
Sự chân thật và tự nhiên: Thầy bắt đầu bằng cách giải thích lý do tại sao đề bài khó với bản thân, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu nhưng vẫn phong phú (e.g., “my heart just sank”, “putting me on the spot”). Điều này không chỉ giúp giám khảo hiểu bối cảnh mà còn tạo cảm giác kết nối với thí sinh.
Tận dụng so sánh và câu chuyện cá nhân: Dù không yêu thích buổi biểu diễn văn hóa nhưng thầy vẫn kể về trải nghiệm của mình ở show “Hoi An Memories” và khéo léo đưa vào sự tương phản giữa sở thích của bản thân và bạn bè. Cách này giúp kéo dài thời gian nói mà không cần “bịa” quá nhiều, thế nên mọi thứ vẫn rất tự nhiên và dễ để nói.
Ngôn ngữ phong phú và linh hoạt: Thầy cũng sử dụng nhiều thành ngữ (e.g., “struck a chord”, “wet blanket”), từ vựng đa dạng (e.g., “choreography”, “heritage”), và cấu trúc câu phức tạp (e.g., “If I had done a bit of pre-reading…”). Điều này cho thấy khả năng ngôn ngữ vượt trội, ngay cả khi nội dung không quá ấn tượng.
Tập trung vào giao tiếp, không phải kiến thức: Trong bài viết, thầy có nhấn mạnh rằng IELTS Speaking không kiểm tra kiến thức hay khả năng bịa chuyện, mà là cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ. Sự chân thật, kết hợp với khả năng diễn đạt mạch lạc, đã giúp thầy ghi điểm trong khi không có quá nhiều thứ để nói
Bài chia sẻ này có một thông điệp gửi đến các thí sinh là: bạn không cần phải biết tất cả mọi thứ. Điều quan trọng là bạn sử dụng ngôn ngữ như thế nào để truyền tải ý tưởng, ngay cả khi ý tưởng đó chỉ là “Tôi không biết gì về chủ đề này”.

Ngoài những chia sẻ của thầy Thành thì mình cũng muốn gửi đến các bạn một số điều mà bản thân đã áp dụng và đúc kết trong phòng thi IELTS Speaking part 2. Hy vọng sẽ là những gì đó giúp ích cho các bạn nhé.
Hồi trước mình từng nghĩ để đạt band điểm cao là chúng ta phải nói liên tục như một cái máy, vào câu hỏi nào cũng trả lời được, cái gì cũng biết. Nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm. Vì chúng ta đâu có thể biết hết mọi thứ đúng không nào. Thế nên đừng ngại thừa nhận rằng bạn không quen với chủ đề nhé. Sự chân thật không chỉ giúp chúng ta thoải mái hơn mà còn thể hiện khả năng giao tiếp tự nhiên. Tuy nhiên, hãy nói một cách khéo léo để tránh cảm giác tiêu cực, khiến giám khảo "mất lòng" nhe các bạn.
Các bạn có thể nói kiểu:
Well, to be honest, this question is quite tricky for me because [reason]. I don’t often [related activity], so I haven’t had much experience with [topic]. That said, if I had to pick something, I’d probably talk about [vague idea]...
Ví dụ: Đề bài: Describe a cultural performance you enjoyed.
Well, to be honest, this question is quite tricky for me because I’m not really into cultural performances. I don’t often go out of my way to watch them, so I haven’t had much experience with this. That said, if I had to pick something, I’d probably talk about a traditional dance I saw at a local festival last year. It wasn’t exactly my cup of tea, but it was interesting in its own way.
Chỉ có part 2 là chúng ta có 1 phút để chuẩn bị, nên không thể bỏ qua, điều chúng mình cần làm là tận dụng hết 60s được cho đó. Trong 1 phút, các bạn có thể ghi nhanh từ khóa hoặc sơ đồ tư duy. Hãy chia bài nói thành các phần đơn giản: What (chuyện gì), Who (với ai), Where/When (ở đâu/khi nào), Why (tại sao). Điều này giúp bạn có một “bộ khung” để nói, ngay cả khi không có trải nghiệm cụ thể.
Note-taking Template mà mình hay dùng nè:
- What: [Main topic or vague idea]
- Who: [People involved, e.g., friends, family]
- Where/When: [Place or time, even if imaginary]
- Why: [Reason, feeling, or lesson]Ví dụ: Đề bài: Describe a book you recently read. Nếu bạn không đọc sách thường xuyên, trong 1 phút, ghi nhanh:
What: A novel I heard about (e.g., a friend recommended it)
Who: A friend who loves reading
Where/When: Last month, at home
Why: Didn’t finish it, but learned something
Đến khi nói, mình có thể tự tin tuôn ra:
I’m going to talk about a book I came across last month. To be honest, I’m not a big reader, so I don’t have many books to talk about. My friend, who’s a total bookworm, recommended this novel to me. I think it was a romance story, but I only read a few pages because I got distracted. It was set in a small town, and I remember liking the descriptions of the scenery. I didn’t finish it, but it made me realize I should probably give reading another shot.
Đây là cách mình hay "ăn gian" khi không có nhiều thứ để nói. Kiểu khi không có nhiều ý để nói về chủ đề, bạn có thể kể một câu chuyện cá nhân hoặc so sánh với sở thích, trải nghiệm của người khác. Điều này giúp bài nói dài hơn mà vẫn tự nhiên, cũng không lo bị off topic dấy.
Storytelling Template của mình:
Let me tell you about [experience]. It happened when I was with [person/people]. They’re really into [related topic], which is quite different from me because I prefer [your preference]. Anyway, [describe what happened]. I felt [emotion] because [reason].
Ví dụ: Đề bài: Describe a sporting event you attended.
Let me tell you about a football match I went to last year. It happened when I was with my cousin, who’s absolutely obsessed with football. He’s the kind of person who watches every match on TV, which is quite different from me because I’d rather play video games. Anyway, he dragged me to this local match at a stadium near our house. The atmosphere was electric—everyone was cheering and waving flags. I felt a bit out of place because I didn’t know the rules, but I could see why people get so excited about sports.
Chắc nhiều thầy cô cũng chia sẻ rồi nhỉ. Khi không có ý tưởng, chúng ta có thể dùng các cụm từ chuyển tiếp (Discourse Markers) để kéo dài thời gian và tạo sự mạch lạc. Những cụm từ này giúp bạn có thêm thời gian suy nghĩ mà vẫn giữ bài nói tự nhiên, kiểu như câu thêm giờ để nghĩ ra thứ để nói ấy.
Discourse Markers đơn giản mà chúng ta có thể sử dụng:
- Starting: “Well, let me think…”, “To be honest…”
- Adding ideas: “In terms of…”, “What I mean is…”
- Concluding: “All in all…”, “That’s pretty much it.”
Ví dụ: Đề bài: Describe a language you would like to learn.
Well, let me think… this is an interesting question because I’ve never really thought about learning a new language. To be honest, I’m quite happy with English, but if I had to choose, I’d probably pick Spanish.
In terms of why, I think it’s because Spanish sounds really lively and it’s spoken in so many countries. What I mean is, it could be useful for traveling...
All in all, I haven’t started learning it yet, but maybe one day I will...
Thật sự là có những topic Part 2 mà mình đọc xong cảm thấy "bất lực", vì nó quá xa lạ với mình, kiểu mình chẳng biết gì vê nó ấy. Nếu chủ đề quá xa lạ, bạn hãy thử cách mình đã dùng nha - đó là liên hệ nó với một trải nghiệm hoặc chủ đề bạn biết. Ví dụ, nếu phải nói về “a cultural performance” như thầy Thành nhưng không biết gì, ta có thể nói về một lễ hội hoặc sự kiện cộng đồng mà bạn từng tham gia.
Công thức tặng các bạn nè:
This topic is a bit unfamiliar to me, but it reminds me of [related experience]. It’s not exactly the same, but I think it’s relevant because [reason]. Let me tell you about it…
Ví dụ: Đề bài: Describe a cultural performance you enjoyed.
This topic is a bit unfamiliar to me, but it reminds me of a local festival I attended last year. It’s not exactly a cultural performance, but I think it’s relevant because it involved traditional music and dance. Let me tell you about it.
It was during the Mid-Autumn Festival, and there was a small stage set up in my neighborhood. I went with my family, and we watched some kids perform a lion dance. I wouldn’t say I was super into it, but the energy was contagious, and it made me appreciate our traditions a bit more...
Như thầy Thành đã chia sẻ, IELTS Speaking không phải là bài kiểm tra kiến thức hay khả năng bịa chuyện. Đó là cơ hội để bạn thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả. Nếu bạn không có ý tưởng, đừng hoảng sợ. Hãy hít thở sâu, tận dụng 1 phút chuẩn bị, và sử dụng các chiến lược trên để “xoay sở”. Quan trọng nhất, hãy là chính mình—giám khảo không tìm kiếm một câu chuyện hoàn hảo, mà là cách bạn giao tiếp, cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ cơ mà.
Nhìn chung thì đây là những điều mà bản thân mình đã đúc kết được sau nhiều lần kinh qua bài thi IELTS Speaking. Thay vì từng lo lắng đến mức run khi nghĩ đến việc bị hỏi một chủ đề lạ ngày trước, mình đã có thể tự tin hơn rất nhiều khi gặp những topic mới mẻ xa lạ với bản thân. Hy vọng những gợi ý trên sẽ giúp bạn vượt qua nỗi sợ “trống rỗng” và chinh phục IELTS Speaking Part 2! Hãy áp dụng và chia sẻ với mình xem kết quả của bạn nhé.
